1. Công nghệ 3G – Tổng quan

a) Giới thiệu

3G, hay 3-G, (viết tắt của third-generation technology) là công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh…).

          Mạng 3G (Third-generation technology) là thế hệ thứ ba của chuẩn công nghệ điện thoại di động, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh…). 3G cung cấp cả hai hệ thống là chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh. Hệ thống 3G yêu cầu một mạng truy cập radio hoàn toàn khác so với hệ thống 2G hiện nay. Điểm mạnh của công nghệ này so với công nghệ 2G và 2.5G là cho phép truyền, nhận các dữ liệu, âm thanh, hình ảnh chất lượng cao cho cả thuê bao cố định và thuê bao đang di chuyển ở các tốc độ khác nhau. Với công nghệ 3G, các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa phương tiện, như âm nhạc chất lượng cao; hình ảnh video chất lượng và truyền hình số; Các dịch vụ định vị toàn cầu (GPS); E-mail;video streaming; High-ends games;…

b) Tổng quan các phần tử

   Một mạng UMTS bao gồm ba phần: thiết bị di động (UE: User Equipment), mạng truy nhập vô tuyến mặt đất UMTS (UTRAN: UMTS Terrestrial Radio Network), mạng lõi (CN: Core Network). UE bao gồm ba thiết bị: thiết bị đầu cuối (TE), thiết bị di động (ME) và module nhận dạng thuê bao UMTS (USIM: UMTS Subscriber Identity Module). UTRAN gồm các hệ thống mạng vô tuyến (RNS: Radio Network System) và mỗi RNS bao gồm RNC (Radio Network Controller: bộ điều khiển mạng vô tuyến) và các nút B nối với nó. Mạng lõi CN bao gồm miền chuyển mạch kênh (PS), chuyển mạch gói (CS) và HE (Home Environment). HE bao gồm các cơ sở dữ liệu: AuC (Authentication Center: Trung tâm nhận thực), HLR (Home Location Register: Bộ ghi định vị thường trú) và EIR (Equipment Identity Register: Bộ ghi nhận dạng thiết bị).

c) Các thành phần

  • UE User Equipment        (Thiết bị người sử dụng) là đầu cuối mạng UMTS của người sử dụng. Có thể nói đây là phần hệ thống có nhiều thiết bị nhất và sự phát triển của nó sẽ ảnh hưởng lớn lên các ứng dụng và các dịch vụ khả dụng.
  • NodeB                  Trong UMTS trạm gốc được gọi là Node B và nhiệm vụ của nó là thực hiện kết nối vô tuyến vật lý giữa thiết bị đầu cuối với nó. Nó nhận tín hiệu trên giao diện từ RNC và chuyển nó vào tín hiệu vô tuyến. Nó cũng thực hiện một số thao tác quản lý tài nguyên vô tuyến cơ sở. Tính năng này để phòng ngừa vấn đề gần xa; nghĩa là nếu tất cả các đầu cuối đều phát cùng một công suất, thì các đầu cuối gần Node B nhất sẽ che lấp tín hiệu từ các đầu cuối ở xa. Node B kiểm tra công suất thu từ các đầu cuối khác nhau và thông báo cho chúng giảm công suất hoặc tăng công suất sao cho Node B luôn thu được công suất như nhau từ tất cả các đầu cuối.
  • RNC       Radio Network Controller            Một thành phần của nằm trong mạng truy cập vô tuyến. RNC kiểm soát các trạm phát sóng di động thế hệ ba (thường là Node B) kết nối với nó. RNC thực hiện quản lý tài nguyên vô tuyến, một vài chức năng di động và đóng vai trò là một điểm mã hóa dữ liệu người dùng để gửi tới hoặc nhận được từ điện thoại di động. RNC kết nối với mạng chuyển mạch lõi thông qua cổng truyền thông và kết nối tới các nút hỗ trợ GPRS trong mạng chuyển mạch lõi.
  • SGSN     Serving GPRS Support Node       Node hỗ trợ phục vụ GPRS. Là node chính của miền chuyển mạch gói. Nó nối đến UTRAN thông qua giao diện IuPS và đến GGSN thông quan giao diện Gn. SGSN chịu trách nhiệm cho tất cả kết nối PS của tất cả các thuê bao. Nó lưu hai kiểu dữ liệu thuê bao: thông tin đăng ký thuê bao và thông tin vị trí thuê bao.
  • MSC       Mobile Switching Center              Trung tâm chuyển mạch di động, thực hiện các chức năng báo hiệu và chuyển mạch cho các thuê bao trong vùng quản lý của mình; kết nối đầu cuối với mạng; nơi kết nối đến mạng ngoài. MSC thực hiện các kết nối CS giữa đầu cuối và mạng. Nó thực hiện các chức năng báo hiệu và chuyển mạch cho các thuê bao trong vùng quản lý của mình. Chức năng của MSC trong UMTS giống chức năng MSC trong GSM, nhưng nó có nhiều khả năng hơn. Các kết nối CS được thực hiện trên giao diện CS giữa UTRAN và MSC. Các MSC được nối đến các mạng ngoài qua GMSC.
  • SMSC    Short Message Services Center Trung tâm tin nhắn, tổng đài, lưu trữ thông tin, dịch vụ khách hàng.

2. Java

J2ME (Java 2 Micro Edition) là một nhánh của ngôn ngữ lập trình Java để phát triển các ứng dụng trên điện thoại di động hay các thiết bị cầm tay nhỏ gọn khác.

          Với khả năng “viết một lần chạy khắp nơi” J2ME có thể thu hẹp được quá trình sản xuất và phát triển các chương trình ứng dụng. Vì thế khi tiêu chuẩn được thiết lập thì nó sẽ làm giảm mối lo ngại từ phía các nhà sản xuất. Công nghệ này được áp dụng đồng thời cũng tạo ra những định hướng và các yêu cầu đặc trưng về chỉ tiêu kỹ thuật. Nhóm chuyên gia thống nhất JSR-185, bao gồm các chuyên gia từ các hãng: Nokia, Rim, Siemen, Sony Ericson, Sun Microsystem, Symbia, T-Mobile và Vodaphone đã đưa ra những quy định cụ thể về chỉ tiêu kỹ thuật của Java.

3. Oracle

Cơ sở dữ liệu oracle là một cơ sở dữ liệu mạnh mẽ nhất thế giới. Được thiết kế để triển khai cho mọi môi trường doanh nghiệp. Việc cài đặt, quản lý rất dễ dàng, các công cụ để phát triển các ứng dụng một cách hoàn thiện và nhanh chóng. Cơ sở dữ liệu oracle phù hợp cho mọi loại dữ liệu, các ứng dụng và các môi trường khác nhau bao gồm cả windows và linux với chi phí tối thiểu.

          Hệ quản trị cơ sở dữ liệu oracle 9i/10g/11g. Đây có thể nói là một hệ quản trị csdl hàng đầu trên thế giới. Hơn hai phần ba trong số 500 tập đoàn công ty lớn nhất thế giới (fortune 500) sử dụng oracle. Ở Việt Nam hầu hết các đơn vị lớn thuộc các ngành ngân hàng, kho bạc, thuế, bảo hiểm, bưu điện, hàng không, dầu khí,… đều sử dụng hệ quản trị csdl oracle. Có được như thế là vì oracle hiện đang dẫn đầu về các tính năng như:

          Khả năng bảo mật rất cao, oracle đạt độ bảo mật cấp c2 theo tiêu chuẩn bảo mật của bộ quốc phòng mỹ và công nghệ csdl oracle vốn được hình thành từ yêu cầu đặt hàng của các cơ quan an ninh fbi và cia.

          Ngoài ra oracle còn là một hệ csdl độc lập với hệ điều hành. Nó cho phép không chỉ chạy trên các hệ điều hành thương mại windows mà còn có thể chạy trên các hệ điều hành mã nguồn mở miễn phí như linux rất mạnh và rất phổ biến hiện nay. Oracle giúp cho các doanh nghiệp sử dụng thông tin chất lượng cao để kết hợp, đo lường các kết quả và truyền một cách chính xác nhất đến tất cả các cổ đông. 

4. Mô hình

Mô hình thác nước (tiếng Anh: waterfall model) là một mô hình của quy trình phát triển phần mềm, trong đó quy trình phát triển trông giống như một dòng chảy, với các pha được thực hiện theo trật tự nghiêm ngặt và không có sự quay lui hay nhảy vượt pha là: phân tích yêu cầu, thiết kế, triển khai thực hiện, kiểm thử, liên kết và bảo trì. Người ta thường dẫn bài báo được Winston W. Royce xuất bản vào năm 1970 để giải thích nguồn gốc cho tên gọi “thác nước”; nhưng có điều thú vị là chính Royce đã dùng mô hình phát triển lặp chứ không hề dùng thuật ngữ “mô hình thác nước”.

Mô hình Royce nguyên gốc có các pha theo đúng thứ tự sau:

  1. Xác định yêu cầu
  2. Thiết kế
  3. Xây dựng (hay “triển khai”, “mã hóa”, “viết mã”)
  4. Liên kết
  5. Kiểm thử và Chỉnh sửa (hay «kiểm nghiệm»)
  6. Cài đặt
  7. Bảo trì

5. Mô hình tổng quát