I. Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1. Các quan niệm về công nghiệp hoá

Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường để biến một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, mà công nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng.

Với cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng có những điểm không hoàn toàn giống nhau và tất nhiên sẽ dẫn đến những chính sách và giải pháp thực thi cũng khác nhau đối với từng nước, thậm chí đối với một quốc gia trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Điều đó được thể hiện khá rõở sựđa dạng trong việc lựa chọn mo hình công nghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước trên thế giới.

Quan niệm đơn giản nhất cho rằng “Công nghiệp hoá là đưa tính đặc thù công nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà máy, các loại hình công nghiệp”. Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử công nghiệp hoáở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ. Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, các nước này chỉ chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, nên sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế – xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình phát triển công nghiệp, mà không phải là đối tượng trực tiếp của công nghiệp hoá.

Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra định nghĩa sau đây (vào năm 1963): “Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế – xã hội.

Một định nghĩa được dùng phổ biến ở nước ta hiện nay cóý nghĩa tương đối bao quát và phù hợp về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại ngày nay do Báo cáo Hội nghị Trung ương 7 (khoá VII) đưa ra là “quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – cong nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.

Định nghĩa này đã nói lên được phạm vi và vai tròđặc biệt quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển kinh tế – xã hội; gắn liền được hai phạm trù không thể tách rời là công nghiệp hoá và hiện đại hóa. Nó cũng xác định vai tròkhông thể thiếu của khoa học – công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

 

2. “Công nghiệp hoá” và “hiện đại hoá”

Công nghiệp hoá là quá trình trang bị công nghệ và thiết bị cơ khí hoá cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí quan trọng. Công nghiệp hoá đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất với kỹ thuật, công nghệ và tổ chức sản xuất truyền thống. Hiện đại hoá là quá trình thường xuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá trình công nghiệp hoá.

Đa số các ý kiến của các nhà nghiên cứu cho rằng hiện đại hoá là quá trình liên tục hiện đại nền kinh tế, thay đổi công nghệ cũ bằng công nghệ mới tiên tiến hơn. Thực chất, hiện đại hoá là cái đích cần vươn tới trong quá trình công nghiệp hoá. Cái đích này không cốđịnh hay duy nhất đối với một quốc gia hay một ngành nghề mà nó luôn thay đổi theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ văn minh chung của nhân loại. Nó còn phụ thuộc cả và loại ngành nghề, từng khu vực khác nhau ngay trong một nước.

Xu thế chung của thế giới ngày nay là thực hiện đổi mới công nghệ nhanh chóng, rút ngắn chu kỳ sống của mỗi loại công nghệ. Điều cần phấn đấu là đưa trình độ khoa học – công nghệ của đất nước theo kịp với trình độ hiện đại chung của thế giới. Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi ngành, mỗi lĩnh vực hoạt động mà xác định trình độ công nghệ thích ứng.

Quan niệm một cách giản đơn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá dẫn tới việc tiếp thu công nghệ không chọn lọc. Do sự thiếu hiểu biết và thiếu thông tin đã dẫn nhiều nước đang phát triển phải trả giá quá lớn và tốc độ hiện đại hoá không được đẩy nhanh.

Vào cuối thế kỷ 20, với những thay đổi nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thì việc hiện đại hoáđối với các nước rất khóđạt được. Ngay cả những nước phát triển cũng dễ dàng bị tụt hậu. Vì vậy, các nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá buộc phải chia quá trình này thành nhiều giai đoạn với mục tiêu của giai đoạn sau là hiện đại hoá những gì mà giai đoạn trước đã đạt được. Đối với mỗi giai đoạn phát triển, người ta thường dùng một số chỉ tiêu nhằm đánh giá kết quả công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ví dụ như mức đóng góp của công nghiệp trong GDP, tỷ trọng lao động trong công nghiệp trong tổng lao động xã hội…

Thực hiện công nghiệp hoá trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay, quá trình trang bị công nghệ cho các ngành phải gắn liền với quá trình hiện đại hoáở cả phần cứng và phần mềm của công nghệ. Quá trình này cũng đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại. Quá trình ấy phải tác động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế – xã hội nhanh vàổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế – xã hội của đất nước với các nước phát triển. Trong đó những nước đi sau đã có một sốít nước (trong đó cóCác nước) thực hiện được hiện đại hoá tương đối cao trong thời gian ngắn.