Trong tiếng anh like – thích (và dislike – không thích) có những mức độ diễn đạt rất phong phú.
Thường ta hay dùng “like/enjoy/be fond of/be keen on + V-ing” để chỉ những điều mình thích.
Khi một người đàn ông đam mê một thứ gì đó, họ sẽ “I am attached to/addicted to + sth/doing sth“.

Còn phụ nữ sẽ lên tiếng “I am crazy about/fancy/in love with + sth + doing sth

– Trong giai đoạn đầu bị “say nắng”, người đàn ông thường dùng các cụm:

I think I fall for/love/fall in love with her. (Tôi nghĩ rằng tôi đã yêu cô ấy mất rồi.)

I am enchanted by her beauty; I am captivated by her eyes… (Tôi bị mê hoặc bởi sắc đẹp của cô ấy; tôi bị quyến rũ bởi đôi mắt của cô ấy…)

– Khi đã qua khỏi giai đoạn này người đàn ông sẽ dùng những câu dưới đây khi nói về người phụ nữ mà họ yêu thương.

I am fascinated with her charming personality. (Tôi thích thú với cá tính yêu kiều của cô ấy.)

I adore/worship her. (Tôi ngưỡng mộ/tôn thờ cô ấy.)

– Cấu trúc I will cherish/treasure + our memories/your present… được dùng để nói về những món quà, những kỷ vật hay chỉ đơn giản là những kỷ niệm ngọt ngào mà chúng ta muốn gìn giữ.

I adore/idolize singer ABC (Tôi ngưỡng mộ/thần tượng ca sĩ ABC) được dùng khi nói về thần tượng của mình.

– Khi thể hiện việc không thích một thứ gì đó một cách lịch sự, người ta thường dùng thể phủ định của những câu mang ý like như:

I don’t really like it. (Tôi không thực sự thích nó.)

I am not very fond of it. (Tôi không thích nó lắm.)

It’s not really my favorite thing… (Đó không phải là thứ tôi thích…)

– Khi quan hệ giữa người nói và người nghe đủ thân mật thì họ có thể dùng cách nói trực tiếp và thẳng thắn hơn như:

I dislike/hate/detest (Tôi không thích/ghét/ghét cay ghét đắng)

I can’t stand/bear it. (Tôi không thể chịu đựng được nó.)

– Mạnh hơn nữa thì có thể sử dụng:

I am disgusted with (Tôi chán ghét)

I nauseate (Tôi ghê tởm)

I am sick of… (Tôi phát ốm vì…)

– Tuy nhiên phải rất cẩn trọng vì thường ở mức độ này, các câu nói hay mang nghĩa khinh khi, miệt thị.

Nguồn: Internet